Nguồn gốc lịch sử trồng trọt hạt mè trên thế giới

Lịch sử trồng trọt hạt mè

Hạt mè được coi là loại hạt cho dầu lâu đời nhất của nhân loại. Cây mè có nhiều loài, và những loài hoang dã được khai thác lâu đời nhất ở Châu Phi và Ấn Độ.

Hồ sơ từ Babylon và Assyria, có niên đại khoảng 4.000 năm trước đây đã đề cập đến mè.

Tàng tích hạt mè rang thu hồi từ các cuộc khai quật khảo cổ học có niên đại khoảng 3500-3050 năm trước Công nguyên.

Thomas Fuller (1608 -16/8/1661) trong tác phẩm của mình đã đề cập đến mối giao dịch buôn bán hạt mè giữa vùng Lưỡng Hà và khu vực mà hiện nay là Pakistan và Ấn Độ xảy ra vào năm 2000 trước Công nguyên.  Một số báo cáo khác khẳng định cây mè được trồng trong Ai Cập trong thời kỳ Ptolemiac. Các thư tịch cổ Ai Cập cho biết nhà Y học Papyrus Ebers (cách nay khoảng 3600 năm) cây mè đã có tên là “sesemt” là một cây dùng làm thuốc chữa bệnh.

Báo cáo khảo cổ học từ Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy cây mè đã được trồng và ép để trích xuất dầu ít nhất 2750 năm trước đây trong đế chế của Urartu.

Cây mè cổ đại được trồng rộng rải ở các khu vực khô hạn ở rìa sa mạc, nơi không có cây trồng khác phát triển được. Cây mè đã được gọi là một cây trồng ‘sống sót’.

Đây là một cây được thuần hóa ở các vùng nhiệt đới khắp thế giới và được trồng để lấy hạt ăn do hạt có hàm lượng chất béo và chất đạm cao..ngoài ra mè còn được dùng làm thuốc.

Cây mè rất chịu hạn, một phần do hệ thống rễ sâu rộng của nó. Tuy nhiên, nó đòi hỏi phải có độ ẩm thích hợp cho sự nảy mầm và phát triển sớm. Độ ẩm trước khi trồng và thời kỳ ra hoa, đậu trái là quan trọng nhất.

Ở Nam Mỹ, cây mè được du nhập từ Châu Phi sau khi người Âu Châu khám phá ra ở Châu Mỹ vào năm 1492 (do Chritophecoloms, người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha) giới thiệu.

Từ những năm 1950, cây mè đã sản xuất mở rộng ở Mỹ phần lớn tập trung tại bang Texas với diện tích dao động từ 10.000 đến 20.000 mẫu Anh (4.000-8.000 ha) trong những năm gần đây. Tuy nhiên sản lượng hạt mè ở Mỹ không đáp ứng kịp nhu cầu tiêu dùng trong nước, Mỹ phải nhập nhiều sản phẩm hạt mè và dầu mè ở nước ngoài, chủ yếu ở nam Mỹ.

Về giống mè

Hiện nay loài mè trồng (Sesamum indicum) có hàng ngàn giống, chúng cũng đã được phân loại theo nhiều loài khác nhau. Tuy nhiên với Di truyền học phân tử hiện đại, mặt dù cây mè trồng có nhiều dạng hình, màu hoa, dạng quả, màu sắc hạt khác nhau, chúng vẩn là các giống khác nhau trong loài mè trồng (Sesamum indicum).

Các hạt mè màu sáng trắng và màu vàng rất phổ biến ở Châu Âu, Châu Mỹ, Tây Á và Tiểu lục địa Ấn Độ. Các hạt mè màu đen và sẫm màu hơn chủ yếu là sản xuất tại Trung Quốc và Đông Nam Á. Châu Phi sản xuất nhiều loại hạt mè.

Các Giống mè trồng đã thích nghi với nhiều loại đất. Các loại cây trồng cho năng suất cao phát triển tốt nhất trên đất đai màu mỡ, thoát nước tốt, và có độ pH gần trung tính. Tuy nhiên đây là loại cây tiên phong trên đất nghèo dinh dưỡng, chịu khô hạn nên là loài cây xóa đói giảm nghèo ở các vùng sản xuất nông nghiệp khó khăn thuộc Châu Phi và Châu Á.

Về năng suất cây mè

Năng suất trung bình của cây mè trên thế giới mới đạt khoảng 490 kg/ha. Các trang trại hạt mè hiệu quả nhất trên thế giới là ở Liên minh Châu Âu với năng suất trung bình là 5,5 tấn một ha trong năm 2010; Ý báo cáo năng suất bình quân toàn quốc tốt nhất là 7,2 tấn một ha.

Có khoảng cách chênh lệch về năng suất cây mè quá lớn là ở rào cản về kiến thức trồng trọt, chọn giống và sử dụng công nghệ cao.

Sản xuất và thương mại

Trong năm 2010 trên Thế giới trồng được 7,8 triệu ha mè,  thu hoạch khoảng 3,84 triệu tấn hạt mè. Các nước sản xuất hạt mè lớn nhất là Miến Điện, Ấn Độ , Trung Quốc, Ethiopia…

Mười nước sản xuất hạt mè lớn nhất thế giới trong năm 2010 là:

10 nước sản xuất hạt mè lớn nhất thế giới trong năm 2010
Nước Sản lượng (triệu tấn) Năng suất (tấn/ha)
Miến Điện 0,72 0,46
Ấn Độ 0,62 0,34
Trung Quốc 0,59 1.22
Ethiopia 0,31 0.99
Xu-đăng 0,25 0.19
Uganda 0.17 0,61
Nigeria 0.12 0,38
Burkina Faso 0.09 0,72
Niger 0.09 0.50
Somalia 0.07 0.96
Toàn thế giới 3,84 0,49

 

Cây mè là loại cây trồng có giá trị tiền mặt cao. Giá mè dao động từ 800 đến 1700 USD mỗi tấn từ năm 2008 đến năm 2010.

Trong năm 2010 giá trị giao dịch hạt mè và dầu mè trên thế giới trên 1 tỷ USD, tăng lên nhanh chóng trong 2 thập kỷ đã qua.

Nhật Bản là nước nhập khẩu mè và dầu mè lớn nhất thế giới. Dầu mè, đặc biệt là từ hạt rang, là một thành phần quan trọng trong nấu ăn truyền thống Nhật Bản và công dụng chủ yếu của hạt giống. Trung Quốc là nước nhập hạt mè và dầu mè đứng thứ II trên thế giới sau Nhật bản. Các nước nhập khẩu hạt mè và dầu mè lớn khác là Hoa Kỳ, Canada, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Pháp.

Xử lý hạt mè sau trồng

Sau khi thu hoạch, hạt mè được làm sạch và giữ nguyên hoặc bóc vỏ. Ở một số nước, khi hạt mè đã được xát vỏ, chúng được chuyển qua một hệ thống máy phân loại màu  điện tử để loại bỏ các hạt khác màu để đảm bảo hạt mè hoàn toàn thuần màu. Những hạt lẩn màu hay có kích thước dị biệt được dùng để ép dầu. Do đó hạt mè thuần màu có giá bán cao hơn so với giá bán hạt mè của những nước có kỹ thuật thấp.

Hạt mè đôi khi được bán với dạng vỏ hạt đã bị tách bỏ – nhân hạt (decorticated). Dạng này thường xuất hiện để trang trí ở phần phía trên của các loại bánh ở các nước có nền kinh tế phát triển.

Xuất khẩu hạt mè và dầu mè chênh lệch rất xa về giá cả. Các nước nhập khẩu hạt mè và dầu mè có những chỉ tiêu nghiêm ngặt về chất lượng sản phẩm.

Yêu cầu trồng mè hiện nay là phải cải tiến về công nghệ trồng trọt để vượt qua rào cản về năng suất. Đồng thời phải phải thay đổi công nghệ chế biến để đạt chuẩn quốc tế các sản phẩm xuất khẩu.

Hạt mè và dầu mè ở các nước Châu Á và Châu phi chủ yếu để tiêu dùng nội nội địa, khó cạnh tranh trên thị trường Châu Ấu, Bắc Mỹ, Úc và Nhật Bản do chưa chuẩn hóa về nguồn giống tốt và công nghệ chế biến tiên tiến.

Nguồn bài viết: https://sites.google.com/site/raurungvietnam/

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *